Du lịch Thanh Hóa

Truyền thuyết hòn đá thiêng và câu chuyện về người phụ nữ

09-10-2026 Tin tức
Câu chuyện nàng Bình Khương gieo mình vào đá chết theo chồng là một trong những sự tích có sức ám ảnh ghê gớm, không chỉ với người đương thời mà còn lay động đến cả hậu thế.

Truyền thuyết hòn đá thiêng và câu chuyện về người phụ nữĐền thờ nàng Bình Khương (xã Tây Đô, tỉnh Thanh Hóa). Ảnh: Minh Thu

Theo chính sử, tháng Giêng năm Đinh Sửu (1397), Hồ Quý Ly sai Thượng thư Lại bộ kiêm Thái sử lệnh là Đỗ Tỉnh đi xem xét đo đạc động An Tôn, phủ Thanh Hóa, đắp thành, đào hào, lập miếu xã, mở đường phố, có ý muốn dời đô đến đấy, ba tháng thì làm xong.

Sử ghi là như vậy, nhưng theo các thư mục khác thì thành An Tôn (sau gọi là Tây Đô) phải hơn một năm mới cơ bản hoàn thành và đến thời vua Hồ Hán Thương còn phải tiếp tục cho các địa phương góp gạch xây thành, phần trên tường đá. Cho dù làm xong trong ba tháng hay là một năm rưỡi, thì thành Tây Đô cũng là một kỳ tích. Để xây dựng xong được thành này, căn cứ theo chu vi, chiều cao, chiều rộng, người ta ước tính phải đào đắp tới 80.000m3 đất, khai thác vận chuyển xây lắp từ 20.000 - 25.000m3 đá phiến. Có những khối đá nặng tới 25 tấn, như ở cổng thành phía Tây hiện nay. Công trình to lớn là vậy nhưng lại vô cùng gấp gáp, vì thế nhà Trần phải huy động một lực lượng lớn dân phu, binh lính, thợ kỹ thuật trong cả nước đến công trường, bất chấp nắng mưa, ngày đêm thi công cho kịp tiến độ, nhiều tai nạn đã xảy ra. Nhiều người đã bỏ mạng trong lúc xây thành, trong đó có vợ chồng nàng Bình Khương.

Tiến độ thi công gấp rút nghiêm ngặt là thế nhưng một đoạn thành phía Đông do Cống Sinh Trần Công Sỹ phụ trách cứ xây gần xong lại bị sụt, không ai rõ nguyên nhân từ đâu. Tin đoạn thành phía Đông bị sụt đổ được cấp báo về triều đình, Hồ Quý Ly lúc bấy giờ đang làm Nhập nội phụ chính Thái sư, Bình chương quân quốc trọng sự, đã đến tận nơi thị sát. Hồ Quý Ly nghi ngờ Cống Sinh Trần Công Sỹ có mưu làm phản, cố ý chậm trễ công việc xây thành. Cuối cùng Hồ Quý Ly tức giận sai người vùi thân chàng vào tường thành.

Truyền thuyết và các ghi chép dân gian về sự kiện này cho hay, Hồ Quý Ly giết Cống Sinh Trần Công Sỹ trước hết là ngầm răn đe những phần tử nào có ý định chống lại việc xây thành rời đô đều phải chết. Những ai cố tình dây dưa chậm tiến độ hoàn thành cũng phải chết. Mặt khác Hồ Quý Ly cho chôn xác Cống Sinh Trần Công Sỹ vào thân thành ý muốn không ai được xâm phạm vào mộ, bảo vệ cho Hoàng thành mãi mãi vững bền.

Nàng Bình Khương lúc đó đang ở quê nghe tin chồng đã bị xử chết, tức tốc đến động An Tôn - là địa danh lúc bấy giờ, Bình Khương đau khổ và uất hận vô cùng. Nàng khóc than vật vã, thương chồng và nàng cũng thương cho bản thân mình. Trong những giây phút đau khổ tột cùng, nàng lao tới bức tường đá nhằm xô đổ bức tường để thấy được xác chồng. Nàng xô mạnh tới mức mười đầu ngón tay chảy máu và lõm sâu in hằn vào mặt đá. Nàng lấy hết sức bình sinh đẩy nhưng tường thành không hề rung chuyển, càng gắng sức xô mạnh bao nhiêu thì nàng càng bất lực trước những phiến đá bấy nhiêu. Chẳng có cách nào, Bình Khương đành đập đầu vào đá để cùng được chết theo chồng. Lạ thay oan khí, khi nàng đập đầu vào thì khối đá lớn lõm xuống và nàng cũng tắt thở.

Đoạn thành bị đổ rồi sau cũng tìm được nguyên nhân, đó là dưới móng đoạn tường thành có mạch nước ngầm lớn chạy qua, địa chất không ổn định, cát đùn lên làm cho đoạn tường thành bị đổ. Để khắc phục sự cố trên, người ta đã làm một cái cống ở đoạn tường thành bên cạnh. Đoạn bị sụt thì đào sâu xử lý lại phần móng, đặt những phiến đá có kích thước rộng phía dưới, rồi mới xây dựng tường thành lên trên. Tuy vậy, tường thành cũng chỉ khắc phục được một phần (đoạn thành bị sụt lún đến nay vẫn còn). Nỗi oan khuất của Cống Sinh Trần Công Sỹ đã được giải, nhưng vợ chồng chàng đã “Hồn bay theo gió/ Xác vương trên thành”.

Dân phu xây dựng kinh thành vô cùng tiếc thương và cảm phục cái chết của nàng Bình Khương. Người ta ngấm ngầm an táng nàng, bí mật thờ nàng nơi hai vợ chồng tử tiết. Về sau khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi, thành Tây Đô không còn là kinh đô nữa, Nhân dân địa phương mới lập miếu thờ nàng Bình Khương. Miếu được lập ngay tại nơi nàng đập đầu và chồng nàng là Cống Sinh Trần Công Sỹ bị chôn sống.

Buổi đầu nơi thờ nàng chỉ là một miếu nhỏ, nhưng nhờ tấm gương tiết liệt và sự linh thiêng, danh tiếng của nàng lan khắp nơi, người người tìm đến chiêm bái. Không ít tao nhân mặc khách khi đến thăm viếng đã cảm xúc đề thơ ca ngợi nàng, phê phán họ Hồ bạo ngược. Lưu Công Đạo tri huyện Vĩnh Lộc thời Gia Long (1816), viết sách “Thanh Hóa tỉnh, Vĩnh Lộc huyện chí”, mục Thành Tây Đô có nhận xét: “Thời ấy không người nào là không rơi lệ, cảm động (...) Trích truyện này gương tiết liệt còn truyền, tính danh vẫn đủ, truyện lại đầy đủ thì không thể mai một. Nên vẫn còn gương người phụ nữ ấy”.

Khoảng đời vua Đồng Khánh (1885-1889), có tin đồn rằng dấu tay và đầu nàng Bình Khương qua gần 500 năm vẫn còn in rõ trên phiến đá tường thành, nên khách xa gần hiếu kỳ tìm về đây rất đông. Có viên hào lý trong làng Đông Môn lo ngại tiếng đồn ngày càng vang xa sẽ gây nhiều phiền nhiễu nên thuê thợ về đục cả phiến đá đem chôn. Công việc này làm trộm trong đêm, không để một ai biết. Nhưng sau khi đục xong phiến đá ấy, người thợ bỗng nhiên mắc bệnh lạ và chết, rồi viên hào lý kia cùng con gái cũng theo nhau mà chết, không rõ nguyên nhân. Bấy giờ, Tri phủ Quảng Hóa là Đoàn Văn Thước nghe tin, lo sợ mới sai lính tìm bằng được và đào phiến đá đó lên, lắp đúng vào chỗ cũ và khắc dòng chữ: “Trần triều Cống Sinh - Bình Khương nương, phu nhân tri thạch” (Tảng đá này ghi dấu vết của nàng Bình Khương, là nương tử của ông Cống Sinh, triều nhà Trần). Tri phủ lại dựng thêm một phiến đá ở trên thân thành, nơi xưa kia Cống Sinh bị chôn lấp, trên đó cũng khắc một dòng chữ: “Trần triều Cống Sinh - Bình Khương phu quân chi biếm” (nghĩa là: Nơi chôn lấp chồng bà Bình Khương, là Cống Sinh triều Trần).

Năm Thành Thái thứ 15, Quý Mão (1903), Tổng đốc Thanh Hóa lúc bấy giờ là Vương Duy Trinh trong một đêm nằm mộng thấy một người phụ nữ khóc lóc kêu oan cho chồng. Sau khi hỏi thăm người trong vùng và được biết đó là nàng Bình Khương, ông liền cho quyên tiền xây dựng ngôi đền khang trang để thờ nàng và cho dựng bia ghi lại sự tích Cống Sinh - Bình Khương. Trong bia còn ca ngợi nghĩa cử của Tri Phủ Đoàn Văn Thước trong việc tìm lại được phiến đá dưới hố sâu, khắc chữ và đặt lại ở thành Đông. Tri phủ Đoàn Văn Thước còn dựa vào lời truyền tụng trong dân gian, sưu tầm được mấy bài thơ, cho khắc vào bia đá dựng bên trái miếu thờ.

Tấm lòng can trường, tiết liệt ấy đến vàng đá còn lay động, huống chi là lòng người. Tổng đốc Vương Duy Trinh đã dâng biểu tâu lên triều đình, xin ban khen cho nàng Bình Khương, nhưng chưa được nhà vua ban sắc. Trong sách “Thanh Hóa kỷ thắng” và trong bia đá, ông viết : “Tứ ngũ bách niên ư thử, triều đình bao biểu sở bất cập. Bại quan ký tái bất đáo, bất thành thâm khả tích dư?” (Trải bốn năm trăm năm nay, [ta] muốn dâng biểu lên triều đình để ban khen nhưng không được. Bởi do chức quan thấp kém, lời tấu không đến được, không phải là thật đáng tiếc sao?). Bên cạnh phiến đá và bia mộ do Tri phủ Đoàn Văn Thước cho khắc, đền thờ nàng Bình Khương đến nay còn ba tấm bia lớn dựng hai bên phía sau đền.

Trải bao thăng trầm lịch sử, dâu bể đổi dời, đền thờ nàng Bình Khương vẫn được Nhân dân bốn mùa hương khói. Qua các thời kỳ, đền luôn được giữ gìn: năm Bảo Đại thứ 5 (1930), đền được trùng tu tôn tạo, dựng bia ghi nhận công đức. Năm 1995, đền thờ - Bi ký nàng Bình Khương được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Trong lần trùng tu gần đây nhất là năm 2009, khi đào móng hậu cung, người ta đã tìm thấy ngôi mộ được cho là của nàng. Từ ngày phát lộ bộ hài cốt đến nay, người dân trong vùng đã lấy ngày 1/9 âm lịch làm ngày giỗ nàng Bình Khương. Ngoài dâng lễ vật, tế nữ quan; Nhân dân trong vùng còn tổ chức phần hội như múa chèo cạn, hát dân ca, tổ chức các trò chơi dân gian. Đây cũng là điểm đến tâm linh của du khách khi về thăm Thành Nhà Hồ.

Nguồn: Baothanhhoa.vn